Bản án 198/2021/HSST ngày 14/05/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 198/2021/HSST NGÀY 14/05/2021 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 210/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2021/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Chu Hoàng G, sinh năm 1999; Tại Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: D, phố T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá:

7/12; Con ông Chu Đức H và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa; Tiền án: Năm 2018 TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong án phạt tù từ ngày 11/11/2019; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/12/2020, chuyển tạm giam 31/12/2020 tại Trại giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Ngọc T2, sinh năm 2000; Tại Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: D, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá 9/12; Con ông Lê Ngọc T3 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị X; Vợ, con: Chưa; Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị caó bị tạm giữ ngày 22/12/2020, chuyển tạm giam 31/12/2020 tại Trại giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị caó có mặt tại phiên tòa.

3. Đoàn Long V, sinh năm 1999; Tại Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: D, phố T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá 9/12; Con ông Đoàn Văn L và bà Trần Thị H; Vợ, con: Chưa; Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/12/2020, tạm giam 02/01/2021 tại trại giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 22 giờ, ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại khu vực cổng khách sạn P đường H, phường Đ, thành phố T đội cảnh sát Công an thành phố Thanh Hóa, phát hiện bắt quả tang Lê Ngọc T2 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán kiếm lời. Thu giữ tang vật là 05 viên nén màu xám không rõ hình dạng đựng trong một túi nilon màu trắng, kích thước 5x5cm và một gói nilon màu trắng kích thước khoảng 3x3cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. T2 khai nhận đây là thuốc lắc và ketamin T2 cầm để đi bán kiếm lời.

Tiến hành xác minh điều tra lời khai của T2: Trưa ngày 20/12/2020 Chu Hoàng G mua 08 viên thuốc lắc và nửa chỉ ketamin của một người đàn ông tên H tại khu vực đường Q, phường Đ, thành phố T với giá 3.100.000 đồng. Mục đích mua ma túy là để bán kiếm lời nhưng chưa bán được thì chiều cùng ngày G mang số ma túy gửi cho Đoàn Long V nhờ V cất giữ hộ G không nói cho V biết mục đích mua bán ma túy của mình. Đến khoảng 21 giờ có người hỏi mua 05 viên thuốc lắc và nửa chỉ Ketamin của T2, T2 gọi cho G, G nói T2 qua nhà V lấy mang bán với giá 3.500.000 đồng. Sau đó G điện cho V nói khi nào T2 qua thì đưa 05 viên thuốc lắc và nửa chỉ Ketamin (G không nói cho V biết T2 lấy ma túy mang đi bán) Đến khoảng 21 giờ 30, ngày 22/12/2020 T2 qua nhà V 05 viên thuốc lắc và nửa chỉ Ketamin, 03 viên thuốc lắc còn lại V cất dấu dưới đầu giường. Sau khi lấy ma túy T2 cầm ra điểm hẹn ở cổng khách sạn P đường H, phường Đ thành phố T, thì bị công an phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật. Sau khi biết T2 bị bắt, G đã lấy 03 viên thuốc lắc còn lại chỗ V cầm ra bờ đê Sông M ném xuống sông.

Ngày 23/12/2020 Đoàn Long V đến Công an thành phố Thanh Hóa xin đầu thú đến ngày 28/12/2020 Chu Hoàng G đến công an thành phố Thanh Hóa đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định số 147/PC09 ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

05 viên nén màu xám không rõ hình dạng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 2,245 gam MDMA;

Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,685gam, loại Ketamine.

Tại bản cáo trạng số 101/CTr -VKS ngày 07/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố Chu Hoàng G và Lê Ngọc T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đoàn Long V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo G); Điều 38; Điều 58 BLHS đối với bị cáo Chu Hoàng G và Lê Ngọc T2 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Đoàn Long V.

Đề nghị mức hình phạt các bị cáo như sau:

- Chu Hoàng G mức án từ 39 (Ba chín) tháng tù đến 42 (Bốn hai) tháng tù;

- Lê Ngọc T2 mức án từ 33 (Ba ba) tháng tù đến 36 (Ba sáu) tháng tù;

- Đoàn Long V từ 24 (Hai bốn) tháng tù đến 27 (Hai bảy) tháng tù;

Về vật chứng đề nghị áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của các bị cáo còn lại sau giám định.

Tịch thu của bị cáo Lê Ngọc T2 01 điện thoại di động Iphone 6 màu ghi IMEL 352090078054231; của Đoàn Long V 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng IMEL358843050252163 để sung nộp ngân sách nhà nước .

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Tronglời nói sau cùng,các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên; Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, một lần nữa các bị cáo thừa nhận: Trưa ngày 20/12/2020 Chu Hoàng G mua 08 viên thuốc lắc và nửa chỉ ketamin của một người đàn ông tên H tại khu vực đường Q, phường Đ, thành phố T với giá 3.100.000 đồng. Mục đích mua ma túy là để bán kiếm lời chiều cùng ngày G mang số ma túy gửi cho Đoàn Long V nhờ V cất giữ hộ, G không nói cho V biết mục đích mua bán ma túy của mình. Đến khoảng 21 giờ có người hỏi mua 05 viên thuốc lắc và nửa chỉ Ketamin của T2, T2 gọi cho G, G nói T2 qua nhà V lấy mang bán với giá 3.500.000 đồng. Sau đó G điện cho V nói khi nào T2 qua thì đưa 05 viên thuốc lắc và nửa chỉ Ketamin (G không nói cho V biết T2 lấy ma túy mang đi bán) Đến khoảng 21 giờ 30 ngày 22/12/2020 T2 qua nhà V 05 viên thuốc lắc và nửa chỉ Ketamin, 03 viên thuốc lắc còn lại V cất dấu dưới đầu giường. Sau khi lấy ma túy T2 cầm ra điểm hẹn ở cổng khách sạn P đường H, phường Đ, thành phố T, thì bị công an phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật. Sau khi biết T2 bị bắt G đã lấy 03 viên thuốc lắc còn lại chỗ V cầm ra bờ đê Sông M ném xuống sông 05 viên nén màu xám qua giám định là ma túy có tổng khối lượng 2,245 gam MDMA; Các hạt tinh thể màu trắng giám định là ma túy có khối lượng 0,685gam, loại Ketamine.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của các bị cáo Chu Hoàng G và Lê Ngọc T2 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Hành vi của bị cáo Đoàn Long V có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của BLHS.

[3]. Về tính chất vụ án: Tệ nạn và tội phạm về ma túy là hiểm họa cho toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến kinh tế, đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác, là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Trong vụ án này các bị cáo đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên cũng cần áp dụng Điều 58 BLHS để xem xét cân nhắc đánh giá vai trò và quyết định hình phạt đối với từng bị cáo:

Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy: Bị cáo G là người chủ động đi mua ma túy về để bán, bị cáo T2 là người giúp sức cho G trong việc bán ma túy cho người khác nên các bị cáo đồng phạm trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Bị cáo G giữ vai trò chính còn T2 với vai trò giúp sức. Vì vậy G phải chịu TNHS cao hơn T2 là phù hợp.

Bị cáo Đoàn Long V là người cất giữ hộ số ma túy cho G nên có hành vi độc lập trong tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với bị cáo G đã có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xét tính chất vụ án và hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và chất ma túy bị nhà nước cấm nhưng các bị cáo Chu Hoàng G và Lê Ngọc T2 vẫn mua ma túy về để bán kiếm lời. Bị cáo Đoàn Long V đã có hành vi tàng trữ ma túy. Hành vi của các bị cáo thể hiện rõ sự xem thường pháp luật.Với tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, việc cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.Bị cáo G và bị cáo V có thêm tình tiết giảm nhẹ đầu thú theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5]. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu của bị cáo Lê Ngọc T2 01 điện thoại di động Iphone màu ghi trắng IMEL 352090078054231; của bị cáo Đoàn Long V 01 điện thoại di động Iphone màu ghi trắng IMEL358843050252163 để sung nộp ngân sách nhà nước.

Số ma túy thu của các bị cáo là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu huỷ. [6].Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo G); Điều 38; Điều 58; Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chu Hoàng G và Lê Ngọc T2.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Đoàn Long V.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS. Khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên bố: Các bị cáo Chu Hoàng G và Lê Ngọc T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Bị cáo Đoàn Long V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt:

1. Bị cáo Chu Hoàng G 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 28/12/2020.

2. Bị cáo Lê Ngọc T2 35 (Ba mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 22/12/2020.

2. Bị cáo Đoàn Long V 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/12/2020.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì được đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Tịch thu của bị cáo Lê Ngọc T2 01 điện thoại di động Iphone màu ghi trắng IMEL 352090078054231; của bị cáo Đoàn Long V 01 điện thoại di động Iphone màu ghi trắng IMEL358843050252163 để sung nộp ngân sách nhà nước .

(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 153/THA ngày 12/5/2021 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa).

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

239
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 198/2021/HSST ngày 14/05/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:198/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/05/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;