Bản án 19/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 19/2021/HNGĐ-ST NGÀY 15/04/2021 VỀ LY HÔN

 Trong ngày 15/4/2021, tại Hội trường xét xử số 2 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:405/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2020 về việc: Ly hôntheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/3/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2021/QĐST – HNGĐ ngày 25/03/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích H; Sinh năm: 1973; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Nơi ĐKNKTT: Tổ 14, khu 3, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng S; Sinh năm: 1960; Nghề nghiệp: Công nhân nghỉ hưu Nơi ĐKNKTT: Tổ 14, khu 3, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Bích H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hồng S kết hôn vào năm 1998 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng kí kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 01 tháng. Sau khi kết hôn chị và anh S về sống cùng nhau tại địa chỉ: Tổ 14, khu 3, phường C thành phố C tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chị có hạnh phúc, đến năm 2015 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Nguyễn Hồng S có những biểu hiện thay đổi về tính cách, bản thân anh S thường xuyên uống rượu, những lúc anh S say rượu thường có thái độ hung hăng, chửi bới, xúc phạm chị, khiến cho vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, to tiếng, thậm chí có lúc say rượu không kiểm soát được bản thân anh S đã chửi bới, đánh đập chị, đuổi chị ra khỏi nhà, làm cho tâm lý của chị và các con bị ảnh hưởng rất nhiều. Cuối năm 2015 do quá hoảng sợ sau những lần bị đánh đập chị đã chuyển ra ngoài sinh sống, hai vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, không ai quan tâm đến ai và cũng không tìm biện pháp để khắc phục mâu thuẫn. Mâu thuẫn của hai vợ chồng chị cũng đã được hai bên gia đình hòa giải khuyên bảo nhưng không đạt được kết quả. Đến nay, xét thấy tình cảm của vợ chồng đã quá lạnh nhạt, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được vậy nên chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hồng S để chị sớm ổn định cuộc sống.

Quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Hồng S có hai con chung là Nguyễn Phương N sinh ngày 18/01/1999 và Nguyễn Thị Thu H sinh ngày 20/4/2000, cả hai con chung đều đã thành niên (đủ 18 tuổi) không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H có quan điểm chị và anh S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Hồng S, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến để làm việc về việc chị H xin ly hôn, nhưng anh S đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi đến Tòa án, vì vậy Tòa án không biết quan điểm của anh S về những nội dung mà chị H yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tại Biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 30/12/2020 tại tổ 14, khu 3, phường C thành phố C tỉnh Quảng Ninh, thể hiện nội dung: Chị Trần Thị Bích H và anh Nguyễn Hồng S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 14, khu 3, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình sinh sống tại khu phố, vợ chồng chị H và anh S, thời gian những năm đầu chung sống có hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận không để xảy ra điều tiếng gì, nhưng đến khoảng thời gian 05 năm trở lại đây (từ khoảng năm 2015) thì vợ chồng chị H và anh S bắt đầu có những mâu thuẫn bất đồng, hai vợ chồng thỉnh thoảng xảy ra việc cãi vã, to tiếng, thậm chí là xô xát đánh nhau, sau đó chị H bỏ đi nơi khác sinh sống. Chị H và anh S có 02 con chung, cả hai con chung đều đã thành niên (đủ 18 tuổi) đều hoàn toàn khỏe mạnh, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần. Mâu thuẫn giữa chị H và anh S xảy ra đã lâu, nay chị H có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân; bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Bích H, chị Trần Thị Bích H được ly hôn với anh Nguyễn Hồng S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Hồng S có nơi cư trú tại phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, nên yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Nguyễn Hồng S vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai và không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Hôn nhân giữa chị Trần Thị Bích H và anh Nguyễn Hồng S có đăng ký kết hôn năm 1998 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cẩm Phả là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị H và anh S có thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân như chị H trình bày là do anh Nguyễn Hồng S có những biểu hiện thay đổi về tính cách, anh S thường xuyên uống rượu dẫn đến có thái độ hung hăng, chửi bới, xúc phạm, có lần đã anh S đã đánh chị, đuổi chị ra khỏi nhà, khiến cho cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã làm ảnh hưởng xấu đến tâm lý của chị và các con rất nhiều. Chính vì vậy từ cuối năm 2015 chị H đã chuyển ra ngoài sinh sống, hai người đã sống ly thân từ cuối năm 2015 cho đến nay. Chị H xác định chị không còn tình cảm với anh S, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Chị Trần Thị Bích H và anh Nguyễn Hồng S có hai con chung là Nguyễn Phương N, sinh ngày 18/01/1999 và Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 20/4/2000; cả hai con chung đều đã thành niên (đủ 18 tuổi) không có nhược điểm về thể chất và tinh thần, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H có quan điểm chị và anh S tự thỏa thuận về tài sản chung; công nợ chung giữa chị và anh S không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Hồng S, không đến Tòa án làm việc và cũng không có quan điểm gửi về tòa án, vì vậy Tòa án không biết quan điểm của anh S về những nội dung chị Trần Thị Bích H yêu cầu giải quyết.

Toà án nhân dân thành phố Cẩm đã xác minh tình trạng hôn nhân của chị H và anh S tại nơi hai người đăng ký hộ khẩu thường trú, nội dung xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân của anh S, chị H đúng như chị H trình bày:

[3] Từ các dẫn chứng trên, Hội đồng xét xử xét thấy :

Tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh S đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mỗi người sống một nơi không ai quan tâm đến ai trong khoảng thời gian khá dài. Chị H xác định chị không còn tình cảm với anh S nên chị xin ly hôn. Anh S hiện đang sinh sống tại nơi cư trú, đã biết được Toà án thụ lý vụ án, biết Toà án triệu tập đến để giải quyết vụ án, nhưng đều không đến Tòa án làm việc, đồng thời cũng không có quan điểm gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không biết quan điểm của anh S về những nội dung chị H yêu cầu giải quyết, mặt khác điều này cho thấy anh S cũng không có ý thức bảo vệ hôn nhân của mình. Từ các phân tích này cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Bích H.

Về con chung: Chị Trần Thị Bích H và anh Nguyễn Hồng S có 02 con chung, các con đều đã thành niên (đủ 18 tuổi), đều không có nhược điểm về thể chất và tinh thần, nên Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[4]Về án phí: Chị Trần Thị Bích H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Bích H.

Cho chị Trần Thị Bích H được ly hôn với anh Nguyễn Hồng S.

Về con chung: Chị Trần Thị Bích H và anh Nguyễn Hồng S có hai con chung là Nguyễn Phương N sinh ngày 18/01/1999 và Nguyễn Thị Thu H sinh ngày 20/4/2000, cả hai con chung đều đã thành niên (đủ 18 tuổi), đều không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết. Về án phí: Chị Trần Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị Bích H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005526 ngày 03/11/2020 của Chi cục Thi thành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, đối với nguyên đơn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, đối với bị đơn tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

310
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

 Bản án 19/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 về ly hôn

Số hiệu:19/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cẩm Phả - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;