Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 09/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 18/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/04/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LN tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thẩm thụ lý số: 542/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình sơ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị TH, sinh năm 1984 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn TL, xã THL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn TL, xã THL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 24/11/2018 cùng các lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị TH trình bày như sau:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn D ngày 01/01/2003. Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã THL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh D ở thôn TL, xã THL, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2010 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D chơi bời không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng xô sát chị TH về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 8/2018 đến nay, vợ chồng cũng cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đó. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Nguyễn Văn D1, sinh ngày 30/10/2003 và Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 27/11/2009 nếu vợ chồng ly hôn chị đồng ý để anh Nguyễn Văn D nuôi cả hai con chung vấn đề góp cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị TH trình bày chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm chị Nguyễn Thị TH vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

Tại bản tự khai ngày 06/12/2018 và các lời khai tiếp theo bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị TH ngày 01/01/2003. Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã THL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh ở thôn TL, xã THL, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì. Tháng 8/2018 chị TH có biểu hiện ngoại tình nên vợ chồng xảy ra xô sát chị TH bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay, vợ chồng anh cũng cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ đó. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mục đích hôn nhân còn đạt được và để các con có một gia đình yên ấm chị TH đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Nếu chị TH kiên quyết xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Nguyễn Văn D1, sinh ngày 30/10/2003 và Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 27/11/2009 nếu vợ chồng ly hôn anh xin được nuôi cả hai con chung, vấn đề góp cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị TH được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Anh Nguyễn Văn D trình bày vợ chồng không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn D vắng mặt. 

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LN tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng.

Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chị TH, chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay anh D vắng mặt lần 2 không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228, 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị TH được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Văn D1, sinh ngày 30/10/2003 và Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 27/11/2009, vấn đề góp cấp dưỡng nuôi con các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị TH có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở chị TH thực hiện quyền này.

- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra đại D1 Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản theo quy định của pháp luật.Tại phiên Tòa hôm nay anh D vắng mặt lần 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị TH kết hôn với anh Nguyễn Văn D ngày 01/01/2003. Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã THL, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh D ở thôn TL, xã THL, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2010 thì vợ chồng anh, chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D chơi bời không quan tâm đến gia đình nên anh, chị không tìm được tiếng nói chung giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát. Tháng 8/2018 chị TH về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay, vợ chồng anh, chị cũng cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đó. Phía chị TH xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D. Phía anh D không đồng ý lý hôn vì cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án anh D cũng thừa nhận hiện vợ chồng anh, chị đang sống ly thân từ khi chị TH về nhà mẹ đẻ ở. Qua kết quả xác minh với chính quyền địa phương và Ủy ban nhân dân xã THL xác nhận vợ chồng anh chị đã sống ly thân không còn quan hệ tình cảm và kinh tế từ khi chị TH bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị TH, anh D đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị TH được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Văn D có hai con chung là Nguyễn Văn D1, sinh ngày 30/10/2003 và Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 27/11/2009. Hiện các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng với anh D. Quá trình giải quyết vụ án anh D có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con và các con của anh, chị đều có nguyện vọng được ở cùng anh D, phía chị TH cũng đồng ý để anh D tiếp tục nuôi cả hai con. Xét nguyện vọng nuôi con của anh D là nguyện vọng chính đáng và anh D có đủ điều kiện để nuôi con. Việc tự nguyện thỏa thuận của các đương sự về người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau khi ly hôn là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật. Nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi con là Nguyễn Văn D1, sinh ngày 30/10/2003 và Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 27/11/2009. Vấn đề góp cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị TH có quyền thăm nom con, chăm sóc, giáo dục con theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị TH và anh Nguyễn Văn D đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị TH phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0003599 ngày 06/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị TH, anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị TH được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Văn D1, sinh ngày 30/10/2003 và Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 27/11/2009. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị TH có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị TH phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0003599 ngày 06/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

232
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 09/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:18/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Nam - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 09/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;