Bản án 166/2020/HNGĐ-ST ngày 25/07/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 166/2020/HNGĐ-ST NGÀY 25/07/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 25 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 680/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Đặng Thị Thúy O, sinh năm 1987, (xin vắng mặt)

Bị đơn: Lê Minh T, sinh năm 1985, (xin vắng mặt) Cùng địa chỉ: Ấp Gò Cao, thị trấn X, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 29 tháng 6 năm 2020 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà O trình bày:

Tôi và ông Lê Minh T có tìm hiểu nhau. Sau đó, chúng tôi tiến tới hôn nhân vào năm 2008, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng thường xuyên cãi vã. Ngoài ra, ông T ăn chơi, cờ bạc, không lo làm ăn. Nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không còn khả năng hàn gắn, nên tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống, tôi và ông T có 01 con chung tên Lê Thị Kim A, sinh ngày 22/9/2009. Con đang sống với tôi. Khi ly hôn, tôi xin được quyền nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tôi và ông T tự thỏa thuận về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Tôi và ông T không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Minh T trình bày: Tôi thống nhất lời trình bày của bà O về thời gian chung sống, việc không đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng khi sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là tánh tình không hợp, bất đồng ý kiến hay cãi vã. Cuộc sống vợ chồng luôn ngột ngạt, không còn khả năng hàn gắn. Tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn. Nay bà O yêu cầu ly hôn với tôi thì tôi đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Tôi và bà Oanh có 01 con chung như bà O trình bày. Khi ly hôn, tôi đồng ý để bà O trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tôi không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận tài sản chung nên tôi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng tôi không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ không thành nên đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Bà O khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh T, có hộ khẩu thường trú tại ấp Gò Cao, thị trấn X, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và hiện đang có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà O chung sống với nhau vào năm 2008 nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông T và bà O không được xem là hôn nhân hợp pháp, đã vi phạm vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Trong quá trình chung sống, bà O cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng thường xuyên cãi vã. Ngoài ra, ông T ăn chơi, cờ bạc, không lo làm ăn. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không còn khả năng hàn gắn, nên bà xin ly hôn với ông T. Ngược lại ông T cho rằng vợ chồng khi sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là tánh tình không hợp, bất đồng ý kiến hay cãi vã. Cuộc sống vợ chồng luôn ngột ngạt, không còn khả năng hàn gắn. Ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên ông đồng ý ly hôn. Xét thấy, do ông T và bà O chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không công nhận ông T và bà O là vợ chồng.

[4]. Về con chung: Bà O và ông T trình bày có 01 con chung tên Lê Thị Kim A, sinh ngày 22/9/2009, hiện đang sinh sống với bà O. Khi ly hôn, bà O xin được quyền nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T đồng ý giao con chung cho bà O nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng: Bà O không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung: Ông T, bà O trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Ông T, bà O trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về án phí: Bà O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Thúy O đối với ông Lê Minh T về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Đặng Thị Thúy O và ông Lê Minh T là vợ chồng.

2. Về con chung: Bà Oanh được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Kim A, sinh ngày 22/9/2009, hiện đang sinh sống với bà O. Ông T không cấp dưỡng nuôi con, do bà O không có yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005699 ngày 30/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Bà O đã nộp đủ.

4. Án xử sơ thẩm, công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

182
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 166/2020/HNGĐ-ST ngày 25/07/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:166/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;