Bản án 136/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X M TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 

BẢN ÁN 136/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện XM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 378/2019/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2019 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2019/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1976 (Có mặt) Địa chỉ: T 4, ấp NH, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1974 (Vắng mặt) Hộ khẩu thường trú: Ấp ĐA, xã ĐHH, huyện CB, tỉnh TG.

Chỗ ở hiện nay: T 4, ấp NH, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2019 bản khai và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn – Bà Trần Thị L trình bày:

Bà L và ông H chung sống với nhau 1999 nhưng đến năm 2000 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không ai mai mối ép buộc được sự đồng ý của hai bên gia đình có t chức lễ cưới. Sau khi cưới bà L và ông H chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng không cùng quan điểm nên thường xuyên va chạm, ngoài ra ông H không có trách nhiệm với vợ con. Bà L và ông H đã cùng ngồi lại với nhau để dàn xếp mâu thuẫn nhưng không thành, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể nào kh c phục được. Hiện nay bà L và ông H đã sống ly thân t đầu năm 2019 đến nay, không quan tâm gì đến nhau, không còn quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông H.

- Về con chung: Bà L và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Lê Hải N, sinh ngày 25/5/2000. Hiện cháu N đã trưởng thành, bà L không có yêu cầu gì.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Văn H đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông H vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại các phiên Tòa ông H đều vắng mặt không có lý do.

Phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn vắng mặt tại các bu i làm việc trước đây cũng như tại các phiên tòa là chưa chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Bà Trần Thị L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H, đây là quan hệ pháp luật ly hôn theo quy định tại Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại địa bàn huyện XM theo điểm a, Khoản 1, Điều 35; điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XM.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vắng mặt không có lý do. Vì vậy việc xét xử vắng mặt ông H là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L xây dựng gia đình với ông H vào năm 1999 nhưng đến năm 2000 mới đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01 ngày 17/3/2000 tại UBND xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà L và ông H chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bà L và ông H bất đồng quan điểm nên thường xảy ra va chạm, vợ chồng không có tiếng nói chung , ông H không chăm lo cho gia đình. T đó tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, bà L và ông H đã ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi. Bà L và ông H ly thân t đầu năm 2019 đến nay, không còn quan hệ qua lại gì về mặt tình cảm cũng như kinh tế .

Kết quả xác minh tại địa phương: Do bà L và ông H không hòa giải ở cơ sở nên địa phương không n m rõ mâu thuẫn nhưng bà L và ông H không sống chung với nhau đã lâu. Xét yêu cầu của bà L cho thấy sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra bà L và ông H phải cùng tìm cách kh c phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc và cùng nhau chăm sóc nuôi dạy con cái nhưng t đầu năm 2019 đến nay bà L và ông H ly thân mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau. Sau khi bà L gửi đơn, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải để đoàn tụ vợ chồng nhưng không thể hòa giải được, ông H vắng mặt không lý do, không thể hiện có thiện chí hòa giải.

T những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của bà L và ông H thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông H.

[3] Về con chung: Bà L và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Lê Hải N, sinh ngày 25/5/2000 hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 1, Điều 28, điểm a, Khoản 1, Điều 35, điểm a, Khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị L đối với ông Nguyễn Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Bà L và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Lê Hải N, sinh ngày 25/5/2000 hiện đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Bà Trần Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu tr vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000246 ngày 01/7/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà L đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

281
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 136/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:136/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;