Bản án 134/2020/HNGĐ-ST ngày 15/12/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 134/2020/HNGĐ-ST NGÀY 15/12/2020 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 508/2020/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020. Giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Thanh B, sinh năm: 1978; địa chỉ: Ấp Voi Sơn, xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy O, sinh năm: 1979; địa chỉ: Ấp Voi Sơn, xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/9/2020, quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa nguyên đơn Anh Trần Thanh B trình bày:

Anh và Chị Nguyễn Thị Thúy O tự tìm hiểu quen biết nhau được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2008 thì thường hay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp tánh tình, bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như trong công việc làm ăn trong gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau làm mất dần tình cảm. Mặc dù đã nhiều lần cố gắng khắc phục hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.

Trong quá trình chung sống anh và Chị O có một con chung là Trần Thị Anh T, sinh ngày: 02/02/2004. Hiện nay con đang chung sống cùng với anh.

Về tài sản và nợ chung: Anh B không yêu cầu giải quyết.

Nay anh B khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với Chị Nguyễn Thị Thúy O

Về con chung: Anh B yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con là Trần Thị Anh T, sinh ngày: 02/02/2004, không yêu cầu Chị O phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 20/11/2020, biên bản hòa giải ngày 04/12/2020, quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa bị đơn Chị Nguyễn Thị Thúy O trình bày:

Chị Oxác định lời trình bày của Anh Trần Thanh B về hôn nhân, con chung, tài sản và nợ chung là đúng.

Chị O thừa nhận trong thời gian chung sống chị và anh B cũng có khi không phù hợp tánh tình, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cự cải với nhau nhưng không có vấn đề gì lớn để vợ chồng phải ly hôn.

Nay anh B khởi kiện yêu cầu được ly hôn thì chị không đồng ý, Chị O yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị và anh B được đoàn tụ về chung sống với nhau để chăm lo cho con.

Nếu anh B cương quyết xin ly hôn thì Chị O yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

Về con chung: Chị O yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con là Trần Thị Anh T, sinh ngày: 02/02/2004, không yêu cầu anh Bphải cấp dưỡng nuôi con Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Anh B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với Chị O nên đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – xin ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị O là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về nội dung:

- Xét về hôn nhân: Anh B và Chị O chung sống với nhau vào năm 2002, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Do vậy việc kết hôn của anh, chị đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Do đó khi có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng luật Hôn nhân gia đình năm 2014 để giải quyết.

Xét về mâu thuẫn giữa anh B và chị O, lúc đầu chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các cặp vợ chồng thường mắc phải nhưng anh, chị không tìm hiểu nguyên nhân từ đâu để khắc phục, tháo gỡ mà để cho mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng, dẫn đến anh B khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với chị O. Từ khi thụ lý vụ kiện Tòa án tiến hành mời hai bên hòa giải động viên anh, chị bỏ qua những mâu thuẫn nhỏ để tiếp tục đoàn tụ chung sống với nhau nhưng anh B cương quyết xin ly hôn vì anh cho rằng anh và Chị O không còn phù hợp tánh tình và quan điểm sống cũng như trong công việc, tình cảm vợ chồng cũng nhạt phai. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình chung sống giữa anh, chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn kéo dài mà không thể tự hòa giải với nhau, đồng thời anh, chị cũng đã nhiều lần khắc phục mâuu thuẫn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay anh B cương quyết xin ly hôn chứ không đồng ý chung sống với Chị O nữa. Từ những cơ sở nhận định và phân tích trên cho thấy mâu thuẫn giữa anh B và Chị O đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nếu tiếp tục chung sống sẽ không có hạnh phúc. Do đó, anh B yêu cầu được ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.

- Về con chung: Anh B và Chị O xác định anh, chị có một con chung là Trần Thị Anh T, sinh ngày: 02/02/2004. Nay anh Byêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con và không yêu cầu Chị O phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu nuôi con của anh B là không có cơ sở chấp nhận - Bởi lẽ tại bản tự khai ngày 04/12/2020 cháu T có nguyện vọng muốn được chung sống với chị O. Mặc khác, cháu T là con gái nên xét về mặt tâm lý thì tình cảm sẽ gần gủi và mến mẹ nhiều hơn, sự tận tụy, chu đáo chăm sóc yêu thương của Chị O sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cháu T sau này. Do đó Hội đồng xét xử nghị nên giao cháu T cho Chị O tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Nếu sau này anh B xét thấy Chị O không chăm sóc, nuôi dưỡng con được tốt thì anh có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

Chị O không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.

Anh B có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.

Về tài sản và nợ chung: Anh B và Chị O xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh B yêu cầu xin ly hôn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005640 ngày 06/11/2020 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Anh Trần Thanh B được ly hôn với Chị Nguyễn Thị Thúy O

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày: 02/02/2004 cho Chị Nguyễn Thị Thúy O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật). Anh Trần Thanh B có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thúy O không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn Anh Trần Thanh B phải nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005640 ngày 06/11/2020 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/12/2020.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

191
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 134/2020/HNGĐ-ST ngày 15/12/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

Số hiệu:134/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Riềng - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;