Bản án 111/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 111/2019/HS-ST NGÀY 27/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 27/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2019/HSST ngày 15/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 121/2019/QĐXXST – HS ngày 15/11/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh năm 1972; Nơi sinh và cư trú: thôn M, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 6/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn S (đã chết); Mẹ đẻ: Giáp Thị C, sinh năm 1926; Vợ: Đỗ Thị G, sinh năm 1976; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2010; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con út.

Tiền án:

Ngày 26/11/2010, bị tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 08 năm tù và phạt 6.000.000đồng về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù năm 2019, chưa chấp hành tiền phạt và án phí.

Tiền sự: Không. Nhân thân:

- Ngày 17/11/1995, bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (trị giá tài sản 10.000.000đồng). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí ngày 21/7/2010.

- Ngày 17/7/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 300.000đồng). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí ngày 21/7/2010.

- Ngày 14/7/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm, xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 518.000đồng). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù tháng 01/2009 và chấp hành xong án phí ngày 07/5/2009. - Ngày 30/11/2009, bị Công an huyện Việt Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Giáp Văn S năm 1969(Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Người làm chứng:

1.Ông Giáp Văn L – Sinh năm 1965 (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

2.Chị Đào Thị L – Sinh năm 1972(Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 40 phút ngày 11/9/2019 tại nhà ngói ba gian của Nguyễn Văn M, sinh năm 1972, ở thôn M, xã H, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Việt Yên bắt quả tang Nguyễn Văn M đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- Thu trên mặt hòm gỗ đặt dưới nền nhà: 01 hộp nhựa màu trắng bên trong hộp đựng 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong túi đựng 05 gói giấy trong các gói giấy đều chứa chất cục bột màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”, 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 bật lửa màu đỏ.

- Mtự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động hiệu GiGi, 1.200.000đồng.

Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Công an huyện Việt Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mnhưng không thu giữ được gì.

Ngày 11/9/2019, Công an huyện Việt Yên ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định số vật chứng thu giữ niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.

Ngày 12/9/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có kết luận giám định số 1463 /KL-KTHS, kết luận:

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 05 (năm) gói giấy, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,171 gam.” Quá trình điều tra Nguyễn Văn M khai nhận:

Mlà đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 10/9/2019, M đi xe khách từ nhà đến khu vực ngã 6 ông tượng ở thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy mang về nhà cất giấu sử dụng dần. Tại đây, M gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,60m, mặt đeo khẩu trang còn họ tên, địa chỉ không biết và bảo người này bán cho 500.000đồng ma túy Heroine đồng thời M lấy tờ tiền mệnh giá 500.000đồng để xuống đất. Người phụ nữ cầm tiền của M đồng thời để một túi ni lon đựng ma túy xuống đất rồi bỏ đi. M dùng tay phải cầm túi ni lon đựng ma túy của người phụ nữ để xuống đất, kiểm tra thấy túi màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong túi đựng 06 gói ma túy. Sau đó, M tiếp tục cầm túi ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay phải bắt xe ôm của người đàn ông không quen biết mang về nhà cất giấu để sử dụng dần. Về tới nhà, M cất giấu túi ma túy vừa mua được vào trong hòm gỗ đặt ở nền nhà rồi đi ngủ. Khoảng 08 giờ ngày 11/9/2019, M lấy túi ni lon đựng 06 gói ma túy mua được trước đó cất giấu trong hòm gỗ để vào 01 hộp nhựa đặt trên mặt hòm rồi lấy 01 gói ma túy ra đổ vào mảnh giấy bạc có sẵn ở đó để sử dụng. Sau đó, M dùng bật lửa sử dụng ma túy nhưng sử dụng không hết nên M để mảnh giấy bạc đựng ma túy sử dụng dở cùng với hộp nhựa đựng 05 gói ma túy còn lại trên mặt hòm gỗ để đến chiều sử dụng tiếp. Khoảng 14 giờ ngày 11/9/2019, M đang ở nhà một mình thì Giáp Văn S, sinh năm 1969, trú quán: thôn C, xã V, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đến gặp M để xin xây cổng và tường bao vì nhà M đang xây dựng. Lúc này, S thấy mảnh giấy bạc đựng ma túy M sử dụng dở trước đó để ở mặt hòm gỗ nên cầm sử dụng, S vừa sử dụng vừa xin M cho sử dụng nốt nhưng M không đồng ý, bảo S đi về. Lúc này, anh Giáp Văn L, sinh năm 1965 ở cùng thôn với S cũng đi đến xin xây cổng và tường bao cho nhà M đồng thời Công an huyện Việt Yên vào bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại và một số vật chứng có liên quan.

Đối với gói ma túy M sử dụng dở sau đó Sính lấy sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên không thu giữ được để làm căn cứ xác định khối lượng. Cơ quan Công an huyện Việt Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S và về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 119/CT - VKS ngày 15/11/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Nguyễn Văn M ra trước Toà án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Mđã thành khẩn khai nhận số ma túy thu giữ tại mặt hòm gỗ trên nền nhà của Mlà của bị cáo. Việc bị cáo bị truy tố như vậy là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đề nghị được xin lại số tiền 1.200.000 đồng và 01 điện thoại di động GiGi.

Người liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa được công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/9/2019.

Do bị cáo là đối tượng nghiện hút, không có công ăn việc làm, đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015.

+Tịch thu tiêu hủy:

- 0,118 gam ma túy Heroin còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang.

- 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 bật lửa; 01 hộp nhựa.

- Trả lại cho bị cáo M: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu GiGi và số tiền 1.200.000 đồng nhưng được giữ lại tiền để đảm cảo công tác thi hành án.

Ngoài ra cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà.Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, qua công bố lời khai của người liên quan, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 10/9/2019, Nguyễn Văn M, sinh năm 1972, trú quán: thôn M, xã H, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đến khu vực ngã 6 ông tượng ở thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang mua 06 gói ma túy Heroine với giá 500.000đồng của một người phụ nữ không quen biết đem về nhà cất giấu tại hòm gỗ ở nền nhà để sử dụng dần. Khoảng 08 gờ ngày 11/9/2019, Mlấy 01 gói ma túy Heroine ra sử dụng một phần, một phần còn lại để trên mặt hòm gỗ để đến chiều sử dụng tiếp. Khoảng 14 giờ cùng ngày 11/9/2019, Giáp Văn S, sinh năm 1969, ở thôn C, xã V, huyện Việt Yên đến nhà Mxin xây tường bao và cổng cho nhà Mđã tự sử dụng hết chỗ ma túy Msử dụng dở trước đó để trên mặt hòm gỗ. Sau đó, Công an huyện Việt Yên vào bắt quả tang và thu giữ của M05 gói ma túy Heroine còn lại chưa kịp sử dụng, có tổng khối lượng 0,171 gam.

[3] Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bị cáo Mđã tàng trữ 0,171 gam ma túy Heroin. Do vậy cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015 là hoàn toàn có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành, là một trong những tệ nạn xã hội cần phải bài trừ bởi nó là một trong những nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp của, giết người...là nguyên nhân dẫn tới gia đình ly tán, đã và đang ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về các tội “Tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”, bị xử phạt vi phạm hành chính về tội “Đánh bạc”.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS do bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[8] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về một số loại tội liên quan đến quyền sở hữu và ma túy. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù thời gian rất ngắn nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do bị cáo là đối tượng nghiện, không có công ăn việc làm ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

[9] Đối với vợ con Mvà anh L không biết bị cáo tàng trữ và sử dụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên không đề cập xử lý.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho M, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh tại khu vực ngã 6 ông tượng ở thị trấn T, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang nhưng không xác định được nên tách ra để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Đối với người đàn ông lái xe ôm chở Mvề nhà sau khi mua ma túy, Mkhai không biết tên tuổi, địa chỉ, không nhớ biển kiểm soát xe và không nói cho biết việc mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên không đề cập xử lý.

[10] Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 BLTTHS 2015.

+Tịch thu tiêu hủy:

- 0,118 gam ma túy Heroin còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang.

- 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 bật lửa; 01 hộp nhựa.

-Trả lại cho bị cáo M: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu GiGi và số tiền 1.200.000 đồng nhưng được giữ lại tiền để đảm bảo công tác thi hành án.

Người liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và được công bố lời khai tại phiên tòa. Việc vắng mặt người liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Nguyễn Văn M 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/9/2019.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 BLTTHS 2015.

+Tịch thu tiêu hủy: - 0,118 gam ma túy Heroin còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang.

- 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 bật lửa; 01 hộp nhựa.

-Trả lại cho bị cáo M: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu GiGi và số tiền 1.200.000 đồng nhưng được giữ lại tiền để đảm bảo công tác thi hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 136, các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

70
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 111/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:111/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Việt Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;