Bản án 04/2021/HNGĐ-ST ngày 18/02/2021 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 04/2021/HNGĐ-ST NGÀY 18/02/2021 VỀ LY HÔN 

Ngày 18 tháng 02 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 350/2020/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 về "Ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự.

* Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn LQ, xã HĐ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Chị Bàn Thị B, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn LC, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt, không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2020; 30/10/2020 nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai lập ngày 23/11/2020 và tại các phiên họp hòa giải ngày 23/11/2020 và ngày 17/12/2020, đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Phạm Văn H trình bày:

Anh Phạm Văn H và chị Bàn Thị B qua tự nguyện, tự do tìm hiểu đã đăng ký kết hôn tại UBND xã HĐ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày 08/3/2019, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương, sau khi kết hôn anh H và chị B chung sống và làm việc ở Hà Nội, anh H chị B chung sống hòa thuận, hạnh phúc trong khoảng thời gian ngắn đến khoảng tháng 6 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp xảy ra nhiều mâu thuẫn bất đồng không thể khắc phục được nên đã sống ly thân từ tháng 6/2019 cho đến nay, giữa hai vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống chung nữa. Anh H xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Bàn Thị B.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh H và chị B không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng, triệu tập chị Bàn Thị B đến Tòa án để giải quyết việc anh Phạm Văn H yêu cầu ly hôn nhưng chị B đều không có mặt. Anh H cung cấp thông tin hiện chị B đi làm ăn xa nhưng không biết địa chỉ cụ thể, một năm chỉ về một đến hai lần. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh và theo lời khai của ông Âu Văn L (là bố đẻ của chị Bàn Thị B) cung cấp thì chị B đi làm ăn xa nhưng vẫn đăng ký hộ khẩu tại thôn LC, xã HP, huyện Chiêm Hóa, ông L xác định hiện nay ông không biết địa chỉ và nơi làm việc cụ thể của chị B; chị B vẫn liên lạc qua điện thoại cho bố mẹ đẻ. Ông có nhận được văn bản của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa và cam kết thông báo cho chị B biết về việc anh H có đơn xin ly hôn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Phạm Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt gửi Tòa án và giữ nguyên ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết, không thay đổi hay bổ sung gì thêm. Bị đơn chị Bàn Thị B vắng mặt không có lý do (Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định), chị B không có ý kiến trình bày tại Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định, bị đơn không thực hiện về quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án, căn cứ các Điều 51, 53, khoản 1 Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn H;

cho anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Bàn Thị B.

- Về con chung: Anh H và chị B không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, đất đai, công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn); Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng.

Anh Phạm Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho anh ly hôn với chị Bàn Thị B. Chị Bàn Thị B đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn LC, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.

Theo cung cấp của Công an xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì chị Bàn Thị B có hộ khẩu thường trú tại thôn LC, xã HP, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chị B đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên hiện tại không rõ chị B đang ở đâu, làm gì. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị B đến Tòa án để làm việc nhưng chị B vắng mặt không có lý do, gia đình chị B đã thông báo nhưng chị B vẫn không về, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn H kết hôn với chị Bàn Thị B trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh H và chị B chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do giữa anh H và chị B không quan tâm đến cuộc sống chung, bất đồng quan điểm sống nên phát sinh mâu thuẫn, anh H và chị B đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay, do vậy giữa anh H và chị B không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn H, xử cho anh H được ly hôn với chị B.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống anh H và chị B không có con chung, nên không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh Phạm Văn H không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn); Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn” của anh Phạm Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Bàn Thị B.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn): Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002919 ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa. Chị Bàn Thị B không phải nộp án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn H và chị Bàn Thị B vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

265
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 04/2021/HNGĐ-ST ngày 18/02/2021 về ly hôn

Số hiệu:04/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/02/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;