Bản án 04/2021/HNGĐ-ST ngày 13/01/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 04/2021/HNGĐ-ST NGÀY 13/01/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 13/01/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1946/2020/HNGĐ- ST ngày 15 tháng 10 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/12/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 347/QĐST –HNGĐ ngày 23/12/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Quang P, sinh năm 1974. Địa chỉ: phường HA, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn:

Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1978.

Địa chỉ: phường HA, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà L vắng mặt không có lý do, ông P có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Trần Quang P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị Hồng L xây dựng gia đình với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TH, thành phố B, hôn nhân tự nguyện, không bị ai đe dọa, cưỡng ép. Chúng tôi chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu, sau đấy thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến bà L bỏ đi khỏi nhà từ tháng 8/2017. Tôi đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố mất tích với bà L và tháng 6/2020 Tòa án đã ra quyết định tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị Hồng L. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi làm đơn xin ly hôn với bà L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quang T, sinh ngày 08/9/2009. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T. Tạm thời tôi không yêu cầu bà L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng L được Tòa án triệu tập hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L hiện cư trú tại địa bàn thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tống tụng cho bà Nguyễn Thị Hồng L nhưng bà không đến tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải cũng như xét xử. Ông Trần Quang P có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Hồng L, ông P.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Quang P và bà Nguyễn Thị Hồng L đăng ký kết hôn vào năm 2001, trên cơ sở cả hai tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các điều 9, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Quá trình chung sống theo ông Trần Quang P trình bày vợ chồng ông xây dựng gia đình với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TH, thành phố B, hôn nhân tự nguyện, không bị ai đe dọa, cưỡng ép. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng sau khi có 01 con chung vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Do có mâu thuẫn nên từ tháng 8/2017 bà L đã bỏ đi khỏi địa phương, ông P đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố mât tích với bà L và ngày 16/3/2020, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị Hồng L. Nay xét thấy giữa ông với bà L không còn hạnh phúc, không có tiếng nói chung trong suộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông làm đơn xin ly hôn với bà L.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Hồng L và ông Trần Quang P theo ông Trần Quang P trình bày là có thật, thể hiện bà L đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2017 đến nay. Ông P đã tiến hành thủ tục thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có tin tức gì của bà L. Qúa trình giải quyết Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ để bà Nguyễn Thị Hồng L đến Tòa làm việc nhưng bà không đến Tòa để tham gia các buổi làm việc, cũng như hòa giải đoàn tụ gia đình, thể hiện bà bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng, không có ý muốn hàn gắn đoàn tụ. Căn cứ vào các điều 51, 54, 56, 57, 58 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Trần Quang P, giải quyết cho ông P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng L là phù hợp quy định pháp luật.

[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng L và ông Trần Quang P có 01 con chung tên Trần Quang T, sinh ngày 08/9/2009. Khi ly hôn ông P có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, ông P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện cháu T trên 7 tuổi và cháu có nguyện vọng được ở với ông P, hiện cháu đang ở với ông P và được chăm sóc rất tốt. Thiết nghĩ nên giao cháu T cho ông P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Tạm thời bà L không cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Theo ông Trần Quang P trình bày là nợ chung không có, tài sản chung tự thỏa thuận. Tuy nhiên, bà L không lên Tòa làm việc nên không có ý kiến về các vấn đề này. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này các bên có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác [6] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Ông Trần Quang P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Trần Quang P đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai số 0009994 ngày 05/8/2020, ông Trần Quang P đã nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các điều 9, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các điều 51, 54, 56, 57, 58; 81, 82, 83, 84, 134 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Quang P.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Quang P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng L.

Về con chung: Giao 01 con chung tên Trần Quang T, sinh ngày 08/9/2009 cho ông P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời bà L không cấp dưỡng nuôi con.

Vì không trực tiếp nuôi con nên bà Nguyễn Thị Hồng L được quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: Ông Trần Quang P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Trần Quang P đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai số 0009994 ngày 05/8/2020, ông Trần Quang P đã nộp xong.

Ông Trần Quang P, bà Nguyễn Thị Hồng L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

219
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 04/2021/HNGĐ-ST ngày 13/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:04/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 13/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;