Bản án về ly hôn số 58/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 58/2021/HNGĐ-ST NGÀY 10/12/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 10 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2021 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số B, thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số A, thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 3 năm 2021, trong quá trình xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Anh T kết hôn ngày 17-4-2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, ông Nguyễn Anh T thường xuyên uống rượu, đánh bạc, đánh đập bà, từ năm 2019 vợ chồng đã sống ly thân đến nay, nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, bà yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Anh T, việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Bảo Anh T, sinh ngày 26- 12-2012 và Nguyễn Khải Minh K, sinh ngày 25-3-2016, bà P hiện nay đang không mang thai. Khi ly hôn bà P yêu cầu giao cả hai con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, nợ riêng đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Ngoài ra, bà P không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Anh T vắng mặt không rõ lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, thông báo nhiều lần nhưng ông Nguyễn Anh T đều vắng mặt, nên Tòa án không lấy được lời khai của ông Nguyễn Anh T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Anh T ly hôn, chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P về giao con chung. Giao hai con chung Nguyễn Bảo Anh T và Nguyễn Khải Minh K cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà Đỗ Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đỗ Thị P có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Anh T. Ông Nguyễn Anh T hiện đang cư trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Anh T tự nguyện kết hôn ngày 17 tháng 4 năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Anh T là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Đỗ Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Anh T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Anh T có hai con chung Nguyễn Bảo Anh T, sinh ngày 26-12-2012 và Nguyễn Khải Minh K, sinh ngày 25-3-2016. Khi ly hôn bà P yêu cầu giao cả hai con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay hai con chung đang sống cùng với bà Đỗ Thị P; Cần ổn định cuộc sống của con chung; Bà Đỗ Thị P có việc làm, thu nhập ổn định, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, nên cần giao hai con chung Nguyễn Bảo Anh T và Nguyễn Khải Minh K cho bà Đỗ Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung; Tài sản nợ chung; Tài sản nợ riêng đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Đỗ Thị P chịu án phí dân sự sơ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Anh T ly hôn.

2. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Bảo Anh T, sinh ngày 26-1 2- 2012 và Nguyễn Khải Minh K, sinh ngày 25-3-2016 cho bà Đỗ Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Buộc bà Đỗ Thị P phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0005544 ngày 19 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà Đỗ Thị P đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Ông Nguyễn Anh T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

21
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn số 58/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:58/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 10/12/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;